Huyền Trân

Học thuật
Thân thiện
Huyền Trân

Huyền Trân mặc áo dài thêu hoa sen trong cung điện.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một công chúa nhà Trần trong lịch sử Việt Nam: Huyền Trân con gái của vua Trần Nhân Tông, em gái của vua Trần Anh Tông. nhân vật lịch sử nổi tiếng gắn liền với sự kiện hôn nhân chính trị để đổi lấy đất đai.
    • Biểu tượng của sự hy sinh đại cục quốc gia: Tên thường được nhắc đến như một dụ về sự hy sinh của người phụ nữ trong các mối quan hệ ngoại giao mở mang bờ cõi.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành Chế Mân vào năm 1306.
    • Câu chuyện về Huyền Trân Công chúa một trang sử bi tráng.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Sự tích Huyền Trân": dùng để chỉ câu chuyện lịch sử, giai thoại về cuộc đời số phận của công chúa Huyền Trân.

    • Sự tích Huyền Trân được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
  • "Tấm lòng Huyền Trân": cụm từ mang tính ẩn dụ, thường dùng để nói về sự hy sinh cao cả nghĩa lớn.

    • ấy tấm lòng Huyền Trân, sẵn sàng chịu thiệt thòi gia đình.
Biến thể từ liên quan
  • Huyền Trân Công chúa: cách gọi đầy đủ trang trọng.
  • Công chúa Huyền Trân: cách gọi phổ biến.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
  • Công chúa nhà Trần: cách gọi chung chỉ thân phận.
  • Hoàng hậu Paramecvari: tước hiệu của khiChiêm Thành.
Thành ngữ, điển tích liên quan
  • "Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân": thường được nhắc đến như một điển tích về cuộc hôn nhân đổi đất, mang ý nghĩa một sự đánh đổi tính toán lợi ích lãnh thổ.

    • Việc làm đó chẳng khác nào "Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân", hy sinh một người để đổi lấy đất đai.
  • "Số phận (hay cuộc đời) như Huyền Trân": dùng để von về một số phận người phụ nữ phải hy sinh hạnh phúc cá nhânlợi ích lớn hơn của gia tộc hay quốc gia.

    • cảm thấy số phận mình như Huyền Trân, phải lấy người mình không yêu trách nhiệm gia đình.
Huyền Trân

Huyền Trân mặc áo dài thêu hoa sen trong cung điện.

  1. Công chúa, con gái Trần Nhân tông, em gái Anh tông, không năm sinh, năm mất
  2. Từ năm 1293, Nhân tông thoái vị, truyền ngôi cho con Anh tông, rồi ra tunúi Yên Tử. Đến năm Tân sửu 1301, nhân phái bộ Chiêm Thành sang giao hảo, Thượng hoàng Nhân tông được mời du ngoạn nước Chiêm. Trần Nhân tông chấp thuận, theo chân phái đoàn, đến sống trong cung điện vua Chiêm của Chế Mân (Jaya Sinbavarman III) ngót 9 tháng. Rồi khi chia tay trở về nước nhà, cảm lòng Chế Mân hậu đãi, Thượng hoàng Nhân tông hứa công chúa Huyền Trân cho (mặc dầu Chế Mân đã vợ chính thất, người xứ Java, mĩ hiệu hoàng hậu Tapasi). Từ ấy, Chế Mân vẫn thường sai sứ sang tỏ việc cầu hôn, nhưng triều đình Việt còn do dự, không trả lời dứt khoát
  3. Đến năm Bính ngọ 1306, vua Trần Anh tông gả cho vua Chiêm Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô,
  4. Huyền Trân về Chiêm, được phong hoàng hậu, mĩ hiệu Paramecvari. Chỉ non một năm, Đ. vị 1307, tháng 5, Chế Mân mất
  5. Tục nước Chiêm, vua mất thì hoàng hậu phải vào hỏa đàn để tuẫn tang. Trần Anh tông biết thế, la ngại cho tính mạng Huyền Trân, liền sai Nhập nội hành khiển Thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung An Phủ sứ Đặng Văn sang Chiêm, giả tiếng đi điếu tang, để tìm cách cứu Huyền Trân đưa về nước
  6. Trần Khắc Chung làm tròn sứ mạng, cứu được Huyền Trân, nhưng trên đường về lại cùng Huyền Trân tư thông. Do đó, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng hễ trông thấy Khắc Chung chửi mắng:" Họ tên người này không tốt, có lẽ nhà Trần mất người này chăng"!